Vào thẳng nội dung
LS Nguyễn Vũ Phong
Hình sự

Án treo: khi nào được, khi nào không?

Nguyễn Vũ Phong
Nguyễn Vũ PhongLuật sư, Thạc sĩ Luật Kinh tế · · Khoảng 6 phút

"Luật sư ơi, có xin cho nó án treo được không?" Đây là câu tôi nghe nhiều nhất từ người nhà bị cáo, nhất là khi tội không quá nặng. Nhiều người nghĩ đã bồi thường, bị hại đã làm đơn bãi nại là chắc chắn được treo. Thật ra điều kiện rõ ràng và chặt hơn vậy.

Án treo là gì

Án treo là bị tòa tuyên phạt tù, nhưng không phải vào trại, mà về địa phương chịu thử thách một thời gian. Trong thời gian đó, người được hưởng án treo phải chấp hành pháp luật và các nghĩa vụ, chịu sự giám sát của chính quyền nơi cư trú hoặc nơi làm việc.

Khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025) quy định:

"Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự."

Cách áp dụng điều này được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn trong Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, đã sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP và Nghị quyết 02/2025/NQ-HĐTP. Bản đang áp dụng là Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025, gọi tắt dưới đây là Nghị quyết hướng dẫn án treo.

5 điều kiện phải có đủ

Theo Điều 2 Nghị quyết hướng dẫn án treo, người bị xử phạt tù chỉ được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ cả 5 điều kiện:

  1. Bị xử phạt tù không quá 03 năm. Mức án tòa tuyên, không phải khung hình phạt của tội.
  2. Nhân thân: ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc. Người từng bị kết án, từng bị xử phạt hành chính vẫn có thể được xem xét trong một số trường hợp, ví dụ đã được xóa án tích và tội lần này là ít nghiêm trọng.
  3. Tình tiết giảm nhẹ: có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trở lên, trong đó ít nhất 01 tình tiết thuộc khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, và không có tình tiết tăng nặng. Nếu có tình tiết tăng nặng thì số tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng từ 02 trở lên.
  4. Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định. Nơi làm việc ổn định là nơi làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc quyết định của cơ quan, tổ chức.
  5. Tòa xét thấy không cần bắt đi tù, vì người đó có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội.

6 trường hợp không được hưởng án treo

Điều 3 Nghị quyết hướng dẫn án treo nêu các trường hợp không cho hưởng án treo:

  1. Người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
  2. Người bỏ trốn và đã bị truy nã hoặc yêu cầu truy nã, trừ trường hợp đã ra đầu thú trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử.
  3. Người đang hưởng án treo lại phạm tội mới trong thời gian thử thách, hoặc bị xét xử về một tội khác thực hiện trước khi được hưởng án treo.
  4. Người bị xét xử cùng lúc về nhiều tội, trừ người dưới 18 tuổi, hoặc bị kết án về 02 tội đều là tội ít nghiêm trọng, hoặc là người giúp sức với vai trò không đáng kể.
  5. Người phạm tội 02 lần trở lên, trừ người dưới 18 tuổi, các lần phạm tội đều là tội ít nghiêm trọng, người giúp sức vai trò không đáng kể, hoặc các lần phạm tội do chính người đó tự thú.
  6. Người tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

Ngoại lệ "tự thú" ở trường hợp 5 rất đáng chú ý. Tôi đã viết riêng một bài về việc tự khai những lần phạm tội chưa bị phát hiện được tính là tự thú. Tình tiết này vừa giúp giảm nhẹ, vừa có thể mở lại đường xin án treo cho người phạm tội nhiều lần.

Những hiểu lầm hay gặp

"Bị hại đã bãi nại thì chắc được treo." Chưa chắc. Đơn của bị hại chỉ là một tình tiết giảm nhẹ. Tôi đọc nhiều thông báo rút kinh nghiệm của viện kiểm sát, trong đó tòa cấp trên sửa án vì cấp dưới cho treo chỉ dựa vào việc bị hại xin, trong khi bị cáo phạm tội nhiều lần hoặc tái phạm.

"Đồng phạm kia được treo thì mình cũng được." Không tự động. Nhưng nếu vai trò ngang nhau, mình cũng đủ điều kiện, thì có thể lập luận về sự công bằng giữa các bị cáo. Có quyết định giám đốc thẩm đã đi theo hướng này.

"Đã bị tạm giam thì được trừ vào án treo." Không. Điều 4a Nghị quyết hướng dẫn án treo quy định thời gian đã tạm giữ, tạm giam không được trừ khi ấn định thời gian thử thách. Chỉ khi sau này người đó bị buộc phải đi tù, thời gian tạm giam mới được trừ vào án tù.

"Được treo là xong." Chưa xong. Thời gian thử thách bằng hai lần mức án tù, nhưng không dưới 01 năm và không quá 05 năm. Trong thời gian đó, nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì tòa có thể buộc đi tù. Phạm tội mới thì phải chấp hành cả bản án cũ.

Người nhà bị cáo nên chuẩn bị gì

  1. Bồi thường, khắc phục hậu quả sớm, có giấy biên nhận, có đơn của bị hại ghi rõ đã nhận đủ.
  2. Xác nhận nhân thân của chính quyền nơi cư trú: chưa vi phạm gì, chấp hành tốt nghĩa vụ công dân.
  3. Giấy tờ nơi cư trú, nơi làm việc: sổ tạm trú, thường trú, hợp đồng lao động từ 01 năm trở lên.
  4. Giấy tờ cho các tình tiết giảm nhẹ khác: gia đình có công, hoàn cảnh khó khăn, bệnh tật (bệnh án phải có dấu, có kết luận của cơ sở y tế).
  5. Bị can khai báo thành khẩn, trước sau như một.

Lời thật

Án treo là quyền xem xét của tòa, đủ điều kiện rồi tòa vẫn có thể không cho. Tôi không hứa với gia đình là sẽ xin được án treo. Điều tôi làm được là kiểm tra kỹ từng điều kiện, gom đủ giấy tờ chứng minh, và trình bày rõ trước tòa vì sao bị cáo không cần phải cách ly khỏi xã hội.

Anh chị đang vướng chuyện pháp lý?

Gọi điện hoặc nhắn Zalo cho tôi, kể ngắn gọn sự việc. Tôi sẽ nói thật vụ của anh chị có căn cứ tới đâu và nên làm gì trước.